Duyên dáng

0.4-28-2008_4-45-12_AM.jpg
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Cỏ Cầu Gai (trang riêng)
Ngày gửi: 17h:42' 15-05-2009
Dung lượng: 453.1 KB
Số lượt tải: 2
Mô tả:
Số lượt thích: 0 người
Avatar

Nguyễn Du (chữ Hán: 阮攸; 17651820) tên tự Tố Như (素如), hiệu Thanh Hiên (清軒), biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ (鴻山獵), là một nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Nguyễn Du được xem như là một nhà thơ lớn của Việt Nam, được người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thi hào dân tộc". Năm 1965, ông được UNESCO tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới.

Cuộc đời

Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765), niên hiệu Cảnh Hưng, tại Thăng Long. Tổ tiên ông vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (thuộc Hà Tây và nay thuộc Hà Nội) sau di cư vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh).

Nguyễn Du thuộc về một gia đình khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan.

Đến thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm (1708-1775), đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận Công dướitriều Lê... Ngoài là một đại thần, ông Nghiễm còn là một nhà thơ, một nhà nghiên cứu sử học. Ông Nghiễm có cả thảy tám vợ và 21 người con trai[1]. Người con trưởng là Nguyễn Khản (1734-1786) đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm quan tới chức Tham Tụng, tước Toản Quận Công (con bà chính, rất mê hát xướng, nổi tiếng phong lưu một thời, thân với chúa Trịnh Sâm), người con thứ hai là Nguyễn Điều đỗ Hương cống, từng làm trấn thủ Sơn Tây. Nếu kể theo thứ tự này, thì Nguyễn Du đứng hàng thứ bảy, nên còn được gọi là Chiêu Bảy.

Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần (1740-1778), con gái một người thuộc hạ làm chức câu kế, [2], người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứKinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, trẻ hơn chồng 32 tuổi. Bà sinh được năm con, bốn trai và một gái.[3].

Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống này kéo dài không quá mười năm. Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản (khi ấy ông Khản đã hơn Nguyễn Du 31 tuổi)).

Năm 1780, khi ấy Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy ra “Vụ mật án Canh Tý”: Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử, thay cho con trưởng là Trịnh Tông. Ông Khản giúp Trịnh Tông, việc bại lộ, bị giam. Đến khi Trịnh Tông lên ngôi, ông Khản được cử lên làm Thượng thư Bộ Lại và Tham tụng. Quân lính khác phe (sử gọi là “kiêu binh”) không phục, kéo đến phá nhà, khiến ông Khản phải cải trang trốn lên Sơn Tâysống với em là Nguyễn Điều rồi về quê ở Hà Tĩnh. Thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu đã đến nương nhờ ông Khản, mỗi người phải mỗi ngã.

Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài), sau đó không rõ vì lẽ gì không đi thi nữa. Trước đây, một võ quan họ Hà (không rõ tên) ở Thái Nguyên, không có con nên đã nhận ông làm con nuôi. Vì thế, khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấm[4] một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên.

Năm 1786, Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà.

Năm 1789, Nguyễn Huệ, một trong ba thủ lĩnh của nhà Tây Sơn đã kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi mấy vạn quân Thanh sang tiến chiếmĐại Việt. Nguyễn Du cũng chạy theo vua Lê Chiêu Thống (1766-1793) nhưng không kịp, đành trở về quê vợ[5], quê ở Quỳnh Côi ở Thái Bình, sống nhờ nhà người anh vợ là danh sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?).

Được vài năm, Nguyễn Du về Nghệ An. Năm 1796, nghe tin ở Gia Định, chúa Nguyễn Ánh (1762-1819) đang hoạt động mạnh, ông định vào theo, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An thì đã bị quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Thuận chỉ huy, bắt giữ ba tháng. Trở về Tiên Điền (Hà Tĩnh), ông sống chật vật một thời gian dài cho đến mùa thu năm 1802, khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, thì ông được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn.

Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên). Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín (Hà Tây, nay thuộc Hà Nội).

Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau: Năm 1803: đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc.

Năm 1805: thăng hàm Đông Các điện học sĩ.

Năm 1807: làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương.

Năm 1809: làm Cai bạ dinh Quảng Bình.

Năm 1813: thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc.

Sau khi đi sứ về vào năm 1814, ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ.

Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng (1791-1840) lên ngôi, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thì mất đột ngột (trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúc bấy giờ) ở kinh đô Huế vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức 18 tháng 9 năm 1820[6]

Lúc đầu (1820), Nguyễn Du được táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền (Hà Tĩnh)[7].

[sửa]Tác phẩm

[sửa]Khái quát

Xét về nội dung, qua các sáng tác của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm, tức đề cao “tình”. Điều quan trọng hàng đầu, là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh (xem: Văn tế thập loại chúng sinh, Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả v.v.). Cái nhìn nhân đạo này khiến ông được đánh giá là “ tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19”. Riêng với Truyện Kiều, kiệt tác này còn “thấm đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp kì diệu của tình yêu lứa đôi.”

Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật , thất ngôn luật, ca, hành...nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà bằng chứng là ở Truyện Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát “có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn của thể loại truyện thơ.”[8]

[sửa]Tác phẩm bằng chữ Hán                                       

Tính đến tháng 5 năm 2008, giới chuyên môn đã sưu tập được 249 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, được chia ra như sau:

§                     Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.

§                     Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh.

§                     Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.

Nhận xét về mảng thơ này, Ngữ văn 10 tập 2 viết:

"Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể hiện tư tưởng, nhân cách của ông. Các bài thơ trong Thanh Hiên thi tập  Nam trung tạp ngâm tuy biểu hiện một tâm trạng buồn đau, day dứt nhưng đã cho thấy rõ khuynh hướng quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về xã hội của tác giả. Trong Bắc hành tạp lục, những điểm đặc sắc tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Du được thể hiện rõ ràng hơn. Có ba nhóm đáng chú ý: Một là ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách cao thượng và phê phán những nhân vật phản diện. Hai là phê phán xã hội phong kiến chà đạp quyền sống con người. Ba là cảm thông với những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi..."(tr. 94)

[sửa]Tác phẩm bằng chữ Nôm

Sáng tác của Nguyễn Du gồm có:

§                     Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đan đứt ruột. Tên phổ biến là Truyện Kiều), được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc.

Về thời điểm sáng tác, Từ điển văn học ghi: Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc (1814-1820), có thuyết cho nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809). Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn (tr. 1844)

Ngữ văn 10 tập 2 đánh giá: "Trên nền tảng nhân đạo chủ nghĩa vững chãi, với tài năng điêu luyện, với sự lựa chọn thể loại truyện thơ kết hợp nhuần nhuyễn cả chất tự sự và chất trữ tình, với sự am hiểu đồng thời cả ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ văn học bác học, Nguyễn Du đã sáng tạo nên một kiệt tác độc nhất vô nhị của văn học trung đại Việt Nam." (tr.94)

§                     Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại chúng sinh), hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tếnày sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812). Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm.

Ngữ văn 10 tập 2 nhận xét: "Nguyễn Du viết bài thơ chiêu hồn cho nhiều hạng người khác nhau, kể cả những người thuộc tầng lớp phong kiến quý tộc. Song tấm lòng nhân ái của nhà thơ vẫn hướng về những thân phận nhỏ bé, dưới đáy xã hội...Do giá trị nhân đạo sâu sắc mà Văn Chiêu hồn đã được phổ biến rộng rãi, kể cả trong phạm vi nhà chùa." (tr. 95)

§                     Thác lời trai phường nón, 48 câu, được viết bằng thể lục bát. Nội dung là thay lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải.

§                     Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ, 98 câu, viết theo lối văn tế, để bày tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác.

Hai bài này được sáng tác khoảng thời gian Nguyễn Du về sống ở Nghệ An, sau bị quân Tây Sơn bắt giữ rồi thả.

Theo Từ điển văn học (bộ mới) thì: "Bài Thác lời trai phường nón rất tình tứ, mang âm hưởng của ca dao, của  còn đậm nét. Bài Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ, tác giả cũng học tập ở ca dao, tục ngữ, thành ngữ nhưng chưa được nhuần nhuyễn; nhiều chỗ tác giả tỏ ra quá lệ thuộc, làm giảm tính sáng tạo của mình.

[sửa]Nỗi lòng Nguyễn Du

Nỗi lòng của Nguyễn Du rất phức tạp. Để hiểu nó, các nhà nghiên cứu văn học thường dựa vào Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền và các tác phẩm của ông (đặc biệt là Truyện Kiều) để rút ra một số nhận định. Nhưng những nhận định ấy đến nay vẫn chưa thống nhất, thậm chí còn mâu thuẫn với nhau một cách sâu sắc.

Trích một số ý kiến:

Năm 1963, GS. Phạm Thế Ngũ viết:

"Một thuyết thịnh hành từ lâu do Trần Trọng Kim xướng ra rằng Truyện Kiều chứa đựng một tâm sự tha thiết nhất của Nguyễn Du, ấy là cái tâm sự của kẻ hàng thần nhớ chúa cũ (hoài Lê). Thuyết trên không phải là điều bị đặt mà có sở cứ rõ ràng. Thái độ phò Lê của ông được tỏ rõ trong những mưu toan chống Tây Sơn. Về sau, bất đắc dĩ phải ra hợp tác với Nguyễn, ông thường tỏ ra kín đáo, nếu không nói là lãnh đạm, lúc nào cũng như mang nặng trong lòng một bầu u uất khó nói. Nỗi lòng ấy chỉ có thể là, như lời ai điếu của Bùi Kỷ trong bài Truy điệu cụ Tiên Điền vào năm 1927:

Dở dang thay cái tu mi.

Cực trăm nghìn nỗi trong khi tòng quyền.

"Hành vi của tác giả chứng tỏ, mà văn chương của tác giả nhiều khi cũng hé lộ rõ ràng. Nhiều bài thơ chữ Hán của ông trong Thanh Hiên tập,Bắc hành tập, đầy ý điếu cổ thương kim, giọng khảng khái bi đát. Cho đến bao nhiêu câu trong chính Truyện Kiều tả thân thế người con gái lưu lạc cũng gióng lên tiếng đau buồn ấy của tác giả..."(tr. 360)

Năm 1967, GS. Thanh Lãng viết:

"Anh em Nguyễn Du đã từng cầm quân ủng hộ nhà Lê, tỏ ra khí phách hơn người. Nhưng công việc không thành, nhà chính trị trẻ tuổi (Nguyễn Du) bỏ về quê, lấy thú chơi săn bắn ở núi Hồng Lĩnh... "Và như phần đông nho sĩ đương thời, ông cho cái đời làm quan dưới một triều đại mới là một trạng thái “thất tiết”, thành ra suốt đời lúc nào ông cũng buồn rầu, ân hận..."(tr. 612)

Năm 1973, nhà phê bình Thạch Trung Giả viết:

"Điều hiển nhiên là niềm tưởng nhớ nhà Lê, nỗi uất ức của người dồn phải dồn vào thế hàng thần. Như chúng ta đã biết, Nguyễn Du là một con người có khí tiết nên đã từng mưu sự cần vương chống Quang Trung. Đến khi nhà Tây Sơn đổ vì nhà Nguyễn, đám cố Lê hết chính nghĩa để chống lại, nhưng những người như Nguyễn Du vẫn không quên mình và ông cha mình đã từng ăn lộc nhà Lê. Vậy việc phải làm tôi cho Gia Long là một vạn bất đắc dĩ, một sự đau lòng, một sự tủi nhục..."(tr. 370)

Năm 1978, GS. Trương Chính viết:

"Đọc ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, chúng ta có thể giải quyết được một vấn đề trước nay ý kiến rất phân tán: thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đại."

"Trong một thời gian khá dài, từ khi Tây Sơn ra Bắc hà (1786) cho đến khi Tây Sơn thất bại (1802), rõ ràng Nguyễn Du có tính việc phục quốc(phù Lê)." Nhưng những chiến thắng của Quang Trung năm 1789 đã làm cho nhiều người có tư tưởng chống Tây Sơn khiếp đảm. Do đó, Nguyễn Du bi quan, chán nản."

"Tuy vậy, đến khi ông trở về quê nhà, dưới chân núi Hồng Lĩnh, chí phục quốc vẫn chưa nguôi. Thế là, theo Gia phả, ông toan vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh."

"Và sau này, cũng theo Gia phả thì: Mùa hạ, tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802), vua Cao Hoàng (tức Gia Long) đi ra Nghệ An. Ông (Nguyễn Du) đón xe yết kiến vua và được đem thủ hạ đi theo ra Bắc. Mùa thu tháng 8 năm ấy, ông được bổ tri huyện huyện Phù Dung. "Về điểm này, Đại Nam chính biên liệt truyện chép hơi khác: Đến khi có lệnh (Gia Long) gọi, không thể từ chối, ông bất đắc dĩ phải ra. Ở đây, chưa bàn Gia phảhay Liệt truyện chép đúng, nhưng cũng như một số nhà nho đương thời, thái độ của Nguyễn Du đối với nhà Nguyễn có khác hơn đối với Tây Sơn. Nghĩa là những cựu thần nhà Lê này vẫn có thể ra phò giúp mà lương tâm không cắn rứt."

"Nhưng tại sao Nguyễn Du được nhà Nguyễn tin dùng mà thái độ hình như là bất đắc chí. Sách Đại nam chính biên liệt truyện cho biết Đối với nhà vua thì ông chỉ giữ hết bổn phận, chứ không hay nói năng điều gì” khiến có khi bị nhà vua quở trách... "Qua những bài thơ trong Nam trung tạp ngâm, kể cả những bài thơ làm trong khi đi sứ, quanh quẩn chỉ bấy nhiêu ý: ca tụng lòng tiết nghĩa, mạt sát những người cầu phú quí công danh, nhớ nhà, nhớ thú săn bắn, muốn về yên nghĩ, cho đời là một cuộc bể dâu...Nghĩa là Nguyễn Du đã nhìn thấy những nỗi đau khổ của quần chúng bị áp bức, đã thấy được cái mục nát, tàn khốc trong triều đình nhà Nguyễn, cho nên ông đã gửi tâm sự vào hai câu thơ:

Bất tri tam bách dư niên hậu,

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như."[9]

Và ý kiến của Nguyễn Lộc trong Từ điển văn học (bộ mới), xuất bản năm 2004:

"Có một điều lạ là Nguyễn Du từng chạy theo Lê Chiêu Thống, và như một số tài liệu nói, ông từng có ý định chống nhà Tây Sơn; nhưng trong các sáng tác của ông, những thái độ này rất mờ nhạt. Trong khi những người khác có hàng tập thơ khóc vua Lê thì ông chỉ ít nhiều rõ nét trong mỗi bài My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù) và đả kích nhà Tây Sơn, thì Nguyễn Du không có một bài nào đả kích. Với nhà Nguyễn, ông được trọng vọng, mà trong thơ ông có cái gì như chán chường nhà Nguyễn. Cũng giống như Thanh Hiên thi tập, trong Nam Trung tạp ngâm, chưa bao giờ Nguyễn Du nói rõ cái tâm sự thật của mình; rải rác đây đó, trong thơ chỉ thấy ông than thở cuộc đời là đáng buồn, đáng chán, là vô nghĩa, là bãi bể nương dâu.

Trong Bắc hành thi tập, nhà thơ có viết về Thăng Long (2 bài) để nói lên những đổi thay đáng buồn của một đế đô. Tuy bài thơ toát lên một tình cảm nhớ cổ, thương kim da diết, mông lung , nhưng khó có thể nói đây là bài thơ nhớ nhà Lê được. Còn ở Long thành cầm giả ca, thì bài thơ không có tí gì gọi là thù địch với nhà Tây Sơn, mà trái lại, trong khi thương xót cho số phận của người ca nữ, nhà thơ lại có vẻ như ngậm ngùi cho sự sụp đổ của triều đại trên...Thái độ của ông như thế nào, thật hết sức khó hiểu. (tr. 1122)

Bởi còn đôi điều khác biệt trên, nên chỉ có thể tạm kết luận:

Nguyễn Du là một con người suy nghĩ nhiều về cuộc sống đương thời, có thái độ yêu ghét khá rõ trước cái tốt cái xấu, nhưng không sao thoát khỏi buồn phiền vì không giải thích nổi cuộc đời và không biết phải làm thế nào để thay đổi cuộc đời đó.[10]

 

 

 

 

 

 

 


Đ
ại thi hào Nguyễn Du sinh ngày 23-11 năm ất Dậu (3-1-1766), mất 1820, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên (có tài liệu nói Trai Hiên) quê nội ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Quê ngoại ở vùng Kinh Bắc văn vật, chỉ cách trung tâm Hà Nội khoảng 13 cây số đường chim bay. Đó là làng Kim Thiều, xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Đây cũng là nơi Nguyễn Du sống những năm tháng thơ ấu. Vùng đất văn vật này có ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc đời thơ văn của Nguyễn Du.

Đến với làng Kim Thiều, chúng tôi như được trở về với một không khí của ký ức Nguyễn Du vốn vẫn là cái nhịp điệu lách cách gần chục thế kỷ của một làng nghề sản xuất đồ gỗ chạm khắc. Chúng tôi đến được nhà thờ họ Trần để dự buổi giỗ Tổ. Trong tộc phả, có ông Trần Phi Nhỡn từng là thượng thư bộ Hộ, với tước hiệu Đông các Điện học sĩ, Nhập thị Kinh Điện (vào cung dạy vua). Đó là tổ ngoại của đại thi hào Nguyễn Du.

Gặp các gương mặt trai đinh họ Trần và các cụ cao tuổi, các thợ chạm gỗ lành nghề, các vị lãnh đạo xã, những người đang làm việc trong nhiều cơ quan, cơ sở sản xuất, là dân địa phương này, đều thể hiện chung vẻ tôn ti của một trật tự dòng họ. Lễ dâng hương được tiến hành, sau đó là những câu chuyện của các lớp hậu duệ họ Trần tự hào với tổ tiên và đại thi hào Nguyễn Du. Đứng trước hiên nhà thờ, các cụ cao tuổi chỉ ra cánh đồng và nói một điều đáng suy nghĩ: "Không biết đương thời cụ Nguyễn Du nhà chúng tôi đã được nhân dân cảm mến tài năng chưa, nhưng trước minh đường nhà thờ họ Trần còn lưu lại một cánh đồng thẳng cánh cò bay có tên là "Cánh đồng Hiên", chúng tôi luôn chạnh lòng nhớ đến Thanh Hiên. Biết đâu cái thái ấp của người cha là tể tướng Nguyễn Nghiễm đã có ý đó để lại cho con là Nguyễn Du một ý thức tự lập cho tên hiệu Thanh Hiên ví với "mầu xanh trước hiên nhà quê ngoại" của mình như một ký ức ở quê hương thứ hai này".

Làng Kim Thiều, quê mẹ Nguyễn Du có tên chữ là Hoa Thiều, tên Nôm là làng Mấc, thuộc xã Ông Mặc, trấn Kinh Bắc xưa. Quê ngoại đã cho Nguyễn Du cùng các anh em của ông cái danh giá thứ hai (sau danh giá gia đình đại quý tộc), đó là niềm tự hào của một vùng quê làng nghề chạm khắc gỗ vừa có lắm nghệ nhân, vừa có nhiều danh sĩ khoa bảng nối đời phụng sự quốc gia; toàn xã có 22 tiến sĩ kể từ thời nhà Trần đến thời nhà Nguyễn (Danh công truyện ký). Thời nay, số giáo sư, tiến sĩ trong các lĩnh vực cũng gần gấp đôi con số đó. Tại xã có 11 di tích được Nhà nước và tỉnh xếp hạng thì chín di tích thuộc về các dòng họ như Đàm (Đàm Thận Huy), Nguyễn (Nguyễn Giản Thanh), Đỗ (Đỗ Đại Uyên), Nguyễn Hữu (Mai Động, Trần (Trần Ngạn Húc)... trong đó dòng họ Trần đã có duyên gá kết phu thê cho người con gái là Trần Thị Tần (có sách nói Trần Thị Thấn), của họ mình với quan tể tướng Nguyễn Nghiễm (triều Lê). Ngay tại làng Kim Thiều, truyền tích vẫn nói tể tướng Nguyễn Nghiễm lấy bà Trần Thị Tần là trắc thất (vợ ba), bà Tần thuộc hệ thứ 11 theo bản phả họ Trần ở Hoa Thiều và bản phả của họ Nguyễn ở Tiên Điền thì tể tướng Nguyễn Nghiễm có vợ cả, vợ hai là hai chị em ruột gái họ Đặng: Đặng Thị Dương và Đặng Thị Thuyết. Nguyễn Nghiễm có 8 vợ và 21 người con.

Nhiều bộ phả của các dòng họ làng Hoa Thiều và toàn xã Ông Mặc có nói về gái vùng này thường được kén vào cung làm phi, thiếp. Quan tể tướng Nguyễn Nghiễm kết duyên với Trần Thị Tần và từ đây anh chị em của Nguyễn Du ra đời với thứ tự Nguyễn Trụ, Nguyễn Nễ, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du và Nguyễn ức. Chuyện cũ còn chép: Gia đình Nguyễn Du sống ở phường Bích Câu, Thăng Long và thường về quê ngoại. Nguyễn Du sinh ra tại làng Kim Thiều, 6 tuổi mới về Thăng Long.

Thân phụ tạ thế lúc Nguyễn Du mới 10 tuổi, hai năm sau vì sầu thương, mẹ của Nguyễn Du cũng qua đời. Anh em Nguyễn Du rơi vào cảnh mồ côi, bần hàn. Có ý kiến nói Nguyễn Du ở quê ngoại, đã phải đi đục gỗ, ghép tranh...

Nguyễn Du đỗ tam trường lúc 19 tuổi, được bổ làm chánh thư hiệu ở Thái Nguyên, năm 1784. Một năm sau thì về quê vợ ở Thái Bình. Quá 30 tuổi Nguyễn Du mới ra làm tri huyện ở tỉnh Thái Bình, rồi thăng tri phủ Thường Tín (tỉnh Hà Đông), sau được giữ chức Đông tri viện học sĩ, được bổ Cai bạ Quảng Bình (1802- 1812), năm 1813 được phong Cần Chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Cuộc đi sứ này đã giúp ông thu thập nhiều tài liệu để sáng tác, trong đó có Bắc hành tạp lục, Nam Trung tạp ngâm... Ông có nhiều công trình nghiên cứu và sáng tác, nhưng "Truyện Kiều" sáng giá hơn cả. Năm 1820, khi ông chuẩn bị đi sứ Trung Quốc thì mắc bệnh đại dịch, mất đột ngột ở tuổi 55.

 

"Truyện Kiều"- Tâm thế thời đại của đại thi hào Nguyễn Du


Nhà bình văn trong khu vườn lưu niệm Nguyễn Du

Sự nghiệp vĩ đại của Đại thi hào Nguyễn Du để lại trong kho tàng văn học Việt Nam là vô cùng to lớn.  Vĩ đại ở chỗ chỉ riêng Truyện Kiều đã được dịch ra hàng trăm thứ tiếng và cũng chính vì thế, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh (1765 -1965) Nguyễn Du đã được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa  thế giới. Nhân kỷ niệm 239 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du (3/1/1765 - 3/1/2004), chúng tôi xin tổng hợp những trang văn viết về Cụ và qua đó hiểu rõ thêm về thân thế và sự nghiệp của Cụ.

Nguyễn Du sinh năm nào?

Xưa nay có nhiều thư tịch, văn bản đưa nhiều giả thuyết về năm sinh của Đại thi hào Nguyễn Du nhưng tựu trung ở hai năm 1765 và 1766. Vậy thực tế Nguyễn Du sinh năm nào?

Theo giáo sư Nguyễn Lộc "Từ điển Văn học (tập II). Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1984, trang 54, 55 cho rằng: "Nguyễn Du (3.I.1766? - 16.IX.1820). Nhà đại thi hào Việt Nam. Tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Siinh năm Ất Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng. Có tài liệu ghi ngày sinh của Nguyễn Du là 23 tháng Mười một, tính ra Dương lịch là 3.I.1766. Quê Nguyễn Du ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh, nhưng lại sinh ở Thăng Long, và thời niên thiếu chủ yếu cũng ở Thăng Long...".

Trong tác phẩm Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực, Giáo sư Lê Đình Kỵ lại viết: "Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng giêng năm 1766 tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình đại quí tộc và có truyền thống khoa cử lâu đời. Họ Nguyễn Tiên Điền là họ danh vọng nhất thời Lê Mạt, cho nên đương thời có lời truyền tụng:

Bao giờ Ngàn Hống hết cây

Sông Rum hết nước họ này hết quan

... Mẹ Nguyễn Du là Trần Thị Tần (1740 - 1778) vợ trắc thất của Nguyễn Nghiễm, sinh được 4 trai, 1 gái. Mồ côi cha từ năm 9 tuổi và mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi... Nguyễn Du có 3 vợ và 18 con. Sau khi Nguyễn Du chết , gia đình ly tán".

Rõ ràng năm 1766 là  thuyết được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận. Nhưng năm 1765 lại được nhiều người công nhận hơn

Vài nét về thân thế và sự nghiệp

Nguyễn Du hiệu là Tố Như, Thanh Hiên, con Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775) làm tới chức Tể tướng, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Nghệ Tĩnh) văn chương vượt hẳn bạn bè, nhưng học vị chỉ là Tam trường (Tú tài). Nguyễn Du gặp nhiều khó khăn hồi còn thanh niên vì sớm mồ côi cha và mẹ nên ăn nhờ ở đậu: hoặc ở nhà anh ruột (Nguyễn Khản), nhà anh vợ (Đoàn Nguyễn Tuấn), có lúc làm con nuôi một võ quan họ Hà, và nhận chức nhỏ: Chánh thủ Hiệu úy. Do tình hình đất nước biến động, chính quyền Lê Trịnh sụp đổ, Tây Sơn quét sạch giặc Thanh, họ Nguyễn Tiên Điền cũng sa sút tiêu điều: "Hồng Linh vô gia, huynh đệ tán". Nguyễn Du trải qua 10 năm gió bụi. Năm 1802, ra làm quan với triều Nguyễn được thăng thưởng rất nhanh, từ tri huyện lên đến tham tri (1815),  được cử làm chánh sứ sang Tàu (1813). Ông mất vì bệnh thời khí (dịch tả), không trối trăng gì, đúng vào lúc sắp sửa làm chánh sứ sang nhà Thanh lần thứ hai.

Nhà lưu niệm Nguyễn Du được xây dựng ở làng quê ông xã Tiên Điền. Trường viết văn để đào tạo những cây bút mới mang tên ông.

Hoàn cảnh ra đời 

Avatar

Xin được giới thiệu với thầy Nam đó là bức họa "trên vòm nhà nguyện Sistine, tại Vatican." của Michelangelo, kiến trúc sư thiên tài mà tên tuổi của ông chỉ đứng sau Leonardo Da Vinci vào thời kỳ phục hưng.


Đây là tác phẩm để đời và mãi mãi bất hủ của người họa sĩ thiên tài, tác giả của bức tượng David-bức tượng được xem là đẹp nhất mọi thời đại
Là bức tranh trần hoành tráng nhất mà ông đã vẽ trong tư thế treo ngược người trong hơn một thập niên. Tất cả những bức tranh con trong chùm tranh này đều lấy từ những điển tích Chúa Sáng Tạo Thế Giới của Kinh Thánh.
Khi Michelangielo được chính đức Giáo Hoàng Julius II vời lại Rome vào năm 1505 để thực hiện 2 tác phẩm, một trong 2 tác phẩm đó là bức tranh vòm đã nói phía trên, ông thấy đây quả thật là một công việc khó khăn và nguy hiểm. Ông phải làm việc ở một độ cao, treo mình trên những bậc giàn giáo và ông đã vẽ trong tư thế đó suốt từ năm 1508 đến năm 1512 để tạo ra một vài bức hoạ đẹp nhất mọi thời đại. Trên khung vòm tại nhà nguyện này ông tạo ra một hệ thống trang trí vô cùng phức tạp bao gồm 9 cảnh lấy từ Cuốn Chúa sáng tạo ra thế giới ( Kinh Cựu Ước ), mà bắt đầu bằng cảnh Chúa phân biệt giữa Ánh Sáng và Bóng Đêm, cảnh tạo ra Adam, cảnh tạo ra Eve, sự quyến rũ và sa ngã của Adam và Eve và trận đại hồng thuỷ. Những bức hoạ này được đặt tại vị trí trung tâm, được bao quanh bởi các hình ảnh về những vị tiên tri, những bà đồng cốt, bệ đá đăng quang, bởi những hình tượng lấy trong Cựu ước, và những hình ảnh về Tổ tiên của Chúa.
Để chuẩn bị cho tác phẩm đồ sộ này, ông đã phải nghiên cứu,lập hàng loạt phác thảo, tạo ra các hình tượng hạt nhân cho mỗi mẫu nhân vật. Chính đó đã thể hiện khả năng vô nhị của ông trong việc nghiên cứu về giải phẫu học cơ thể con người, nghiên cứu các chuyển động của con người, nghiên cứu các hình ảnh huyền bí trong tôn giáo vô cùng kỹ lưỡng. Do vậy ông đã làm thay đổi về phong cách hội hoạ Phương Tây một cách mạnh mẽ.

Trịnh Thành Trung

Avatar
Hân hạnh được làm thành viên! Chúc các bạn luôn vui vẻ, hạnh phúc! mời các bạn ghé tham quan và góp ý giùm trang web của tôi nhé!
Avatar

Tặng bạn trang yêu thích của tôi:

http://maps.google.com/maps?ll=14.046194,108.47415&z=3&t=h&hl=en

Avatar
Các bạn đam mê võ thuật mời ghé thăm và chia sẻ tại đây
Avatar
Xin được  làm  thành  viên của  trang nầy  nha!
 
Gửi ý kiến