Gốc > Bài viết > Lưu giữ kỉ niệm >

Tác động của chiến thắng ĐBP đối với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa

 

ĐBP - Chiến thắng Điện Biên Phủ (ĐBP) và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, là một trong những thắng lợi vĩ đại trong lịch sử giữ nước của của nhân dân Việt Nam, đồng thời là mốc lịch sử quan trọng trong lịch sử phong trào cách mạng thế giới. “Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”. Cuộc kháng chiến 9 năm với đỉnh cao là chiến thắng ĐBP của nhân dân Việt Nam, đã ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên nhiều khía cạnh.

 

Thứ nhất, thắng lợi ĐBP đã làm đảo lộn chính sách thuộc địa của thực dân Pháp. Sau chiến thắng ĐBP, nhân dân các nước thuộc địa đã vùng dậy đấu tranh mạnh mẽ, đặc biệt là nhân dân các nước Bắc Phi. Do hoàn cảnh cụ thể mà phong trào đấu tranh ở mỗi nước lựa chọn cho mình con đường đấu tranh riêng. Trước tình hình bế tắc trong cuộc chiến ở Bắc Phi và bị lên án mạnh mẽ trên trường quốc tế, để xoa dịu dư luận thế giới và phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Pháp cũng như để đối phó với cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, chính phủ Pháp buộc phải lần lượt trao trả độc lập cho Tuynidi, Marốc, Angiêri... Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân các nước thuộc địa đã làm phá sản chính sách thuộc địa của thực dân Pháp, đồng thời cũng là tiếng chuông cáo chung cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.

Thứ hai, chiến thắng ĐBP làm suy sụp nền chính trị ở chính quốc, tạo tiền đề cho những thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

Cuộc chiến tranh ở Đông Dương đã gây nhiều xáo động trong xã hội, làm tiêu hao của nước Pháp quá nhiều sinh lực. Trong cuộc chiến tranh xâm lược ViệtNam (12/1946 – 7/1954), Pháp mất 446.000 binh lính và sĩ quan. Hậu quả của cuộc chiến tranh đè nặng lên nhân dân lao động Pháp. Ngân quỹ Pháp không thể chi phí cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nếu không có viện trợ của Mỹ. Nhân dân và dư luận tiến bộ Pháp đấu tranh đòi lật đổ Chính phủ Lannien vì Chính phủ không còn đủ tư cách để lãnh đạo nước Pháp.

Cuộc đấu tranh của nhân dân Pháp trở nên mạnh mẽ từ sau chiến thắng của quân dân Việt Nam ở ĐBP. Phong trào này không những diễn ra trong lòng nước Pháp mà còn lan nhanh sang các nước thuộc địa, tạo nên một phong trào đấu tranh rộng lớn vì Việt Nam. Họ hiểu rằng, ủng hộ Việt Nam chống thực dân Pháp cũng chính là ủng hộ dân tộc mình thoát khỏi ách nô lệ. Sau này, một số người tham gia phong trào vì Việt Nam trở thành những thành viên tích cực của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Thứ ba, chiến thắng ĐBP thức tỉnh, cổ vũ to lớn phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa trên thế giới, mở đầu sự sụp đổ chủ nghĩa thực dân kiểu cũ.

Sau châu Phi, Đông Dương có vị trí quan trọng trong hệ thống thuộc địa của Pháp. Đây là nơi giàu tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực, nơi cung cấp những nguồn lợi béo bở để phục vụ “chính quốc”. Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, Pháp đã dự tính một kế hoạch khai thác Đông Dương trong vòng 5 năm (1946-1950) với nguồn vốn đầu tư 25.498 triệu đồng Đông Dương. Nhưng do bị thiệt hại nặng nề trong cuộc chiến tranh nên 4 năm đầu của kế hoạch, chỉ đầu tư được 1.141 triệu đồng. Quan hệ thương mại giữa Pháp và Đông Dương bị gián đoạn, đến cuối năm 1954 thì quan hệ này hoàn toàn tan vỡ. Sau thất bại Việt Bắc (1947), nhiều công ty Pháp đã ồ ạt chuyển vốn đầu tư sang châu Phi và hiện tượng đó nhanh chóng trở thành “sự tháo chạy của tư bản Pháp”. Việc chuyển sang đầu tư ở châu Phi đã đem lại những nguồn lợi khổng lồ cho bọn thực dân, trong những năm 1951-1953, lợi nhuận của các công ty Pháp tăng 50%. Lợi nhuận của bọn thực dân đồng nghĩa với việc bóc lột thậm tệ sức lao động của nhân dân các nước thuộc địa. Bên cạnh đó, Pháp còn tăng cường bắt lính làm bia đỡ đạn ở chiến trường Việt Nam, các nhà cách mạng của nhân dân các nước Bắc Phi còn bị giết hại, tù đày và tra tấn một cách dã man. Chính vì thế, lòng căm thù của nhân dân bản xứ tăng lên gấp bội. Trong hoàn cảnh đó, chiến thắng ĐBP của nhân dân Việt Nam đã chỉ cho nhân dân các nước thuộc địa con đường giải phóng, giúp họ nhận rõ kẻ thù để đấu tranh. Họ hiểu rằng, chỉ có một phương tiện hiệu lực là đấu tranh vũ trang để tự giải phóng.

Năm 1945, cuộc đấu tranh mới nổ ra và thắng lợi ở một số nước Đông Nam Á (Việt Nam, Lào, Mã Lai, Miến Điện...). Sau năm 1946, phong trào giải phóng dân tộc bước vào thời kỳ khó khăn; bị bọn thực dân lợi dụng, núp dưới danh nghĩa quân đồng minh để đàn áp. Hai cuộc khởi nghĩa năm 1948 và 1954 ở Angiêri chống Pháp bị dập tắt. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa vẫn cứ âm ỉ, dù nhiều lần bị dập tắt nhưng khi có cơ hội thì lại bùng lên. Sau chiến thắng ĐBP , diễn ra hàng loạt các cuộc biểu tình, bãi công của nhân dân các nước thuộc địa như: Marốc, Angiêri, Tuynidi... với mục đích đòi trao trả độc lập, thành lập chính phủ dân tộc. Tiếp sau, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ Latinh dâng cao chưa từng thấy. Nếu 12 năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ II, chỉ có khoảng 20 nước giành độc lập thì từ 1958 đến 1964, đã có thêm 35 nước giành được độc lập. Hệ thống thuộc địa của các nước đế quốc khác tại châu Phi cũng bắt đầu tan rã, riêng năm 1960 có 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập...

Thứ tư, chiến thắng ĐBP không những đã làm đảo lộn chính sách thuộc địa của thực dân Pháp; làm suy sụp nền chính trị ở chính quốc, tạo tiền đề cho sự nghiệp giải phóng ở các nước thuộc địa; mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ mà ở một khía cạnh khác, chiến thắng ĐBP còn là chiến thắng bước đầu quan trọng đối với chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

Chiến thắng ĐBP đã ảnh hưởng sâu sắc tới chiến lược toàn cầu. Các nhà chiến lược của các nước đế quốc đã không thể không nhìn nhận, điều chỉnh hoặc bổ sung chiến lược toàn cầu và kế hoạch quân sự của mình. Thất bại của thực dân Pháp đồng thời cũng là một đòn giáng mạnh vào đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, vì quá tự tin vào tiềm lực quốc phòng và sức mạnh kinh tế của mình, nên Mỹ đã tìm cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ, nhanh chóng hất cẳng và thay chân Pháp ở Đông Dương.

Thế chân Pháp, Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam, dốc toàn bộ lực lượng dành cho “cuộc chiến tranh lớn”, tạo mọi điều kiện để thực hiện chiến lược quân sự sau khi đã điều chỉnh. Và cuối cùng, lịch sử đã chứng minh, khi chiến thắng ĐBP của nhân dân Việt Nam tống cổ Pháp ra khỏi Đông Dương, làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ, thì chiến thắng ĐBP cũng là thất bại cay đắng của Mỹ trong âm mưu mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương để nối liền các căn cứ chiến lược của Mỹ nhằm khống chế cả vùng Đông Nam Á. ĐBP là tiền đề quan trọng làm suy yếu tận gốc chủ nghĩa thực dân mới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi của nhân dân ba nước Đông Dương, là minh chứng cụ thể và hùng hồn cho điều đó.

 

PGS.TS Phạm Thành Dung (Phó GĐ Học viện Chính trị Hành chính KVI)


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Tiến Nam @ 23:40 05/05/2009
Số lượt xem: 469
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến