Gốc > Bài viết > Lưu giữ kỉ niệm >

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, bản anh hùng ca của thời đại Hồ Chí Minh


Nhân dịp Kỷ niệm 55 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2009) chúng ta cùng ôn lại tầm vóc thắng lợi và ảnh hưởng sâu xa của chiến công vĩ đại này đối với dân tộc ta và các dân tộc trên thế giới; đồng thời suy nghĩ vận dụng bài học lịch sử vô giá của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

I. Chiến thắng lịch sử, bản anh hùng ca của thời đại Hồ Chí Minh

 

Ngày 19-12-1946 với Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Bác Hồ đã anh dũng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược. Từ những ngày đầu kháng chiến với vũ khí thô sơ và tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta thực hiện tiêu thổ kháng chiến, cầm cự trên tất cả các chiến trường, tiêu hao sinh lực địch, làm phá sản một bước chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của địch. Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong năm đầu kháng chiến toàn quốc. Quân và dân ta đã đánh bại cuộc tiến công chiến lược quy mô, mạo hiểm và đầy tham vọng của Pháp. Chiến thắng này là đòn quyết định làm thất bại hoàn toàn chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của địch, bảo vệ an toàn căn cứ địa cách mạng và đầu não kháng chiến, mở ra giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Chiến thắng Biên giới năm 1950 đã tạo ra một chuyển biến cơ bản cho cuộc kháng chiến, đưa kháng chiến bước vào giai đoạn mới, giai đoạn ta nắm quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc bộ, chuyển hẳn sang liên tục tấn công và phản công địch. Sau chiến thắng Biên giới, ta thoát khỏi thế bị bao vây, có điều kiện tiếp nhận sự chi viện về vật chất và tinh thần của Liên Xô, Trung Quốc và bạn bè quốc tế. Tiếp đó là chiến thắng Hòa Bình năm 1951, Chiến thắng Tây Bắc năm 1952, Chiến thắng Thượng Lào năm 1953 cùng với các chiến thắng khác của quân và dân ta đã tạo ra thế và lực mới của cuộc kháng chiến, ta chủ động tiến công địch trên tất cả các chiến trường.

 

Thành tựu chiến đấu và xây dựng trong 3 năm (1951-1953) của nhân dân và quân đội ta đã tạo ra so sánh lực lượng mới trên chiến trường ngày càng có lợi cho ta, bất lợi cho thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và bọn tay sai. Qua thực tiễn chiến đấu và xây dựng, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và nhân dân du kích đều có bước trưởng thành toàn diện cả về quân số, kinh nghiệm và vũ khí trang thiết bị chiến đấu. Hậu phương kháng chiến được mở rộng, nhân dân vùng giải phóng hăng hái tham gia kháng chiến, kiến quốc. Tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia ngày càng có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả. Các nước xã hội chủ nghĩa, mà trước hết là Liên Xô, Trung Quốc công nhận Chính phủ kháng chiến của Việt Nam, dành cho Việt Nam sự giúp đỡ to lớn và hiệu quả. Phong trào nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp, can thiệp Mỹ sôi sục trên thế giới và diễn ra ngay tại Pháp, Mỹ.

 

Thực dân Pháp, can thiệp Mỹ và bọn tay sai lâm vào tình thế cực kỳ khó khăn, nguy hiểm. Các kế hoạch chiến tranh của Pháp lần lượt bị phá sản. Các chính phủ điều hành chiến tranh của Pháp liên tục sụp đổ đến 19 lần. Có đến 6 viên Cao ủy và 7 viên Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp bị thay thế. Chiến lược quân sự của Pháp trên chiến trường Việt Nam lúng túng, bị động, mắc kẹt giữa tập trung và phân tán lực lượng, giữa giữ vùng tạm kiểm soát với đối phó vùng tự do. Quân đội Pháp thiếu hẳn lực lượng cơ động mạnh trên chiến trường. Ngụy quân tay sai Pháp rệu rã, thiếu sức chiến đấu, không đảm đương được nhiệm vụ thay thế quân đội viễn chinh ở các khu vực cần thiết. Trên đất Pháp, khó khăn về kinh tế, xã hội ngày càng trầm trọng. Nguy cơ bị thất bại cả về chính trị, quân sự, kinh tế đã đặt thực dân Pháp trước tình thế hoặc bị Việt Nam đánh bại hoặc bị Mỹ hất cẳng, thay thế. Chính phủ cực hữu Pháp chủ trương dựa vào viện trợ Mỹ, đẩy mạnh chiến tranh, tìm lối thoát trong danh dự.

 

Chính quyền Mỹ với mục tiêu chiến lược hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương, ngăn chặn làn sóng cách mạng dâng cao ở khu vực Đông Nam Á, nhưng trước mắt không thể để mất hoàn toàn Đông Dương. Vì vậy, Mỹ tăng cường đổ tiền và can thiệp sâu hơn vào cuộc chiến tranh tàn bạo của Pháp ở Đông Dương. Viện trợ quân sự Mỹ cho Pháp tại chiến trường Đông Dương chiếm tỷ lệ 43% năm 1953 tăng lên 78% năm 1954 tổng chi phí quân sự của Pháp.

 

Với sự bảo trợ của Mỹ, tháng 5-1953, Chính phủ Pháp cử Đại tướng H.Nava làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương và cho ra đời Kế hoạch Nava (7-1953). Đây là kế hoạch chung của Pháp và Mỹ nhằm tạo thế mạnh về quân sự trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Mục tiêu của Kế hoạch Nava là trong vòng 18 tháng tiêu diệt phần lớn chủ lực của ta, kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, đưa Việt Nam vĩnh viễn trở thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Pháp và Mỹ. Để đạt được mục tiêu đó, Kế hoạch Nava chủ trương xây dựng đội quân chủ lực Pháp đến năm 1954 có 7 sư đoàn cơ động chiến lược với 27 binh đoàn làm nắm đấm thép định đoạt chiến trường. Kế hoạch Nava là nỗ lực cuối cùng của Pháp và Mỹ nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường “chuyển bại thành thắng”. Trước tình hình đó, Đảng ta nhận định Kế hoạch Nava có thể gây cho ta những khó khăn mới nhưng bản thân nó chứa đựng mâu thuẫn và nhược điểm không thể khắc phục nổi và nhất định sẽ thất bại. Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 nhằm tiến công vào những hướng địch sơ hở, tiêu hao sinh lực địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch. Quân và dân ta phối hợp với Lào và Campuchia hình thành các đòn tiến công chiến lược: tiến đánh và giải phóng Lai Châu; mở và giành thắng lợi trong các chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào, Đông Campuchia, Tây Nguyên và Thượng Lào. Kết quả, quân và dân ta cùng với quân và dân Lào và Campuchia đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng của địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng để đối phó trên khắp chiến trường Đông Dương; đẩy quân đội Pháp và tay sai vào thế bị động chiến lược, buộc địch co cụm đối phó, dần dần hình thành nên cụm cứ điểm Điện Biên Phủ. Đây là kế hoạch nằm ngoài dự kiến ban đầu của “Kế hoạch Nava”.

 

Trước tình hình đó, ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị họp nhận định Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng chỗ yếu cơ bản là bị cô lập. Về phía ta, khó khăn lớn nhất là vấn đề cung cấp hậu cần nhưng có thể khắc phục được. Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954. Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch và Đảng ủy mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch.

 

Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược quân sự rất quan trọng, có thể khống chế cả vùng rộng lớn Tây Bắc và Thượng Lào. Địch đã tập trung ở đây 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn, trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới. Đây là toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp tại Đông Dương. Lực lượng địch được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung, Nam với 49 cứ điểm. Điện Biên Phủ trở thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.

 

Về phía ta, chấp hành quyết định của Bộ Chính trị, mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ được tiến hành khẩn trương. Các đơn vị bộ đội chủ lực tham gia chiến dịch lần lượt tới vị trí tập kết, mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch. Ta đã huy động 261.451 dân công, thanh niên xung phong phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày 25-1-1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng tiêu diệt địch theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Nhưng nhận thấy kẻ địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc. Bộ Chỉ huy chiến dịch đã đi đến quyết định đúng đắn là giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhưng thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”.

 

17 giờ ngày 13-3-1954 quân ta nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

 

Trong đợt tiến công thứ nhất (từ 13 đến 17-3-1954) quân ta đã tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm địch.

 

Trong đợt tiến công thứ hai từ ngày 30-3-1954, quân ta thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công địch, buộc địch rơi vào tình trạng cố thủ bị động, bị tiêu hao sinh lực, mất tinh thần cao độ.

 

Từ ngày 1 đến 7-5-1954, quân ta mở đợt tiến công thứ ba, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Các chiến sĩ của ta bắt sống Đơ Caxtơri chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm và cắm lá cờ Quyết chiến quyết thắng lên nóc hầm sở chỉ huy của địch, ta đã tiêu diệt và bắt sống 16.200 quân địch, bắn cháy 62 máy bay, thu và phá hủy toàn bộ vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của địch.

 

Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng, kết thúc oanh liệt cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 của quân và dân ta. Đây là cuộc tiến công chiến lược lớn nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

 

Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đập tan kế hoạch Nava, cũng là cố gắng cao nhất, cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Chiến thắng này đã đánh sập ý chí xâm lược của Pháp và là trận đầu đánh thắng Mỹ, đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương (20-7-1954).

(Còn tiếp)


Theo TẠP CHÍ BÁO CÁO VIÊN

Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Tiến Nam @ 23:42 05/05/2009
Số lượt xem: 678
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến