Gốc > Bài viết > Lưu giữ kỉ niệm >

ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐỊA DANH TRƯỜNG TỒN

 

Nếu khi xưa, tướng Nava cho xây dựng Điện Biên Phủ trở thành một tập đoàn cứ điểm kiêu hãnh của thực dân Pháp, là niềm tự hào của ông ta với đầy đủ quân lực phục vụ chiến tranh xâm lược thì ngày nay, Điện Biên Phủ đã trở thành niềm tự hào của Việt Nam nói chung và của người dân Điện Biên Phủ nói riêng.

 

Bước vào đông xuân 1953 - 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta tiếp tục trên đà thắng lợi và có nhiều chuyển biến quan trọng. Trong khi đó, nước Pháp đang lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế và chính trị. Cuộc chiến ở Việt Nam đặt Pháp trước tình thế phải thắng nhanh hay chịu thất bại, hoặc để Mỹ vào thay thế. Tháng 5-1953, với sự chấp thuận của Mỹ, tướng Hăngri Nava, tham mưu trưởng lục quân của khối Bắc Đại Tây Dương, được cử làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Nava vạch ra kế hoạch quân sự mang tên "Kế hoạch Nava" với mục đích xoay chuyển cục diện chính trị ở Đông Dương, với mục tiêu trong 18 tháng chuyển bại thành thắng.

Tác chiến bằng xe tăng là một phần quan trọng trong kế hoạch Nava 

Những toan tính cuối cùng
Sau tám năm tiến hành chiến tranh xâm lược, ngày một sa lầy, chính giới Pháp muốn rút ra khỏi cuộc chiến tranh, nhưng phải bằng "lối thoát danh dự". Họ muốn qua cuộc đọ sức ở Điện Biên Phủ, khẳng định rằng quân và dân ta không thể giành chiến thắng bằng sức mạnh quân sự, đó cũng là vốn liếng để họ đem đến bàn đàm phán. Bên cạnh đó, Pháp có trách nhiệm bảo vệ Lào, theo hiệp ước mà họ ký với chính phủ Lào ngày 28-10-1953. Họ tính đến sự sụp đổ dây chuyền từ Bắc Lào xuống trung Đông Dương, ảnh hưởng cả tình thế ở Campuchia, Thái Lan và tất nhiên cả Nam Bộ (Việt Nam) nếu để mất thượng Lào. Dưới con mắt của các tướng tá chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp và can thiệp Mỹ, Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn ở phía tây khu Tây Bắc, có chiều dài gần 20 km, rộng 6 - 8 km, cách Hà Nội khoảng 300 km, cách Luông Phabăng (Lào) 200 km theo đường chim bay, cách hậu phương chính của ta - Việt Bắc 500 km đường bộ. Đây là trung tâm của những con đường nối liền các biên giới của Lào, Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc, nó như "cái bàn xoay" có thể xoay đi bốn phía Việt Nam, Lào, Miến Điện và Trung Quốc, như "cái chìa khoá" bảo vệ Thượng Lào, là một vị trí chiến lược quan trọng, then chốt che chở cho Thượng Lào, bàn đạp để tấn công chiếm lại tỉnh Lai Châu và Khu Tây Bắc. Điện Biên Phủ có cánh đồng rộng lớn, trù phú, đông dân nhất vùng thượng du Bắc Bộ, tiện cho cơ giới cơ động, có sân bay Mường Thanh được xây dựng từ năm 1889 và cũng là địa điểm xung quanh có núi bảo vệ, nên máy bay lên xuống dễ dàng để quản lý vùng trời; đây cũng là con chủ bài về hậu cần, thóc lúa một vụ ở đây có thể đủ nuôi vài ba vạn quân trong nhiều tháng. Về lâu dài Điện Biên Phủ sẽ trở thành một căn cứ không quân và lục quân lợi hại, phục vụ cho chính sách xâm lược của thực dân Pháp ở Đông Nam á.
Hơn nữa, thực dân Pháp cũng cho rằng: Việt Nam không thể đánh bại được hình thức phòng ngự kiên cố, lại liên hoàn như Điện Biên Phủ. Đồng thời, quân Pháp cũng nghĩ rằng: Quân đội Việt Nam cũng không thể tập trung quá hai đại đoàn với trang bị nặng để tới vùng núi xa xôi, đường sá rất xấu. Việc tiếp tế thì chắc chắn là bế tắc. Hơn nữa, nếu bộ phận lớn chủ lực Việt Minh bị giam chân ở Điện Biên Phủ, thì còn đâu là quyền chủ động chiến lược. Với tính toán kiểu trên, Nava và Bộ chỉ huy của ông ta cho rằng Điện Biên Phủ sẽ là "cái máy nghiền", nghiền nát chủ lực Việt Minh nếu họ dám đọ sức ở đó. Với những toan tính như vậy quân Pháp tiến hành đánh chiếm lại và xây dựng cứ điểm Điện Biên Phủ.
Tập đoàn cứ điểm "đáng sợ" trong con mắt thực dân
Ngày 20-11-1953, thực dân Pháp cho quân nhảy dù chiếm lại Điện Biên Phủ. Tiếp đó, thực dân Pháp tích cực tuyển mộ lính mới để bổ sung quân số, chúng đã bắt 500 thanh niên vào lính và ra sức tổ chức mạng lưới do thám làm tai mắt cho địch bằng cách cho máy bay thả bọn lính nguỵ địa phương và do thám xuống khu vực tự do để gây cơ sở phá hoại, chặn các con đường đi lại làm cản trở việc vận chuyển hàng hoá của ta ra mặt trận, quấy rối hậu phương, gây hoang mang trong nhân dân và lôi kéo bọn tay sai. Mặt khác chúng tiến hành bắn phá, cướp bóc, giết hại nhân dân, đốt phá làng bản, dỡ nhà dân về làm hầm hào, công sự, cấm dân ra đồng thu hoạch mùa màng mặc dù đang vụ lúa chín, dồn dân các xã vùng đồng bằng vào 3 khu vực: Ta Pô, Co My, Noong Nhai để dễ bề kiểm soát.
Thực hiện "kế hoạch Nava", thực dân Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất ở Đông Dương với tổng số quân lúc cao điểm là 16.200 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh với 40 khẩu pháo 105 ly và 155 ly, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 10 chiếc, 1 đại đội xe vận tải hàng trăm chiếc, 1 phi đội không quân thường trực 14 chiếc,... Đồng thời, thực dân Pháp còn bố trí thành 49 cứ điểm trong 8 cụm cứ điểm là một hệ thống hoả lực nhiều tầng, có chiến hào ngang dọc, một số cứ điểm còn có hầm ngầm, hàng rào dây thép gai bao quanh dày 50 - 200 m, hàng rào điện tử sát mặt đất và một số phương tiện chiến tranh hiện đại như súng phun lửa, súng máy 4 nòng, súng bắn đêm bằng tia hồng ngoại, áo giáp chống đạn,... Tám cụm cứ điểm trên hợp thành ba phân khu:
1) Phân khu trung tâm ở ngay giữa cánh đồng Mường Thanh. Tại đây tập trung phần ba lực lượng địch, có cơ quan chỉ huy, trận địa pháo binh, kho hậu cần, sân bay, phía đông phân khu là một hệ thống cứ điểm bố trí trên các điểm cao.
2) Phân khu Bắc gồm cứ điểm Độc Lập và bản Kéo. Cùng với cụm cứ điểm Him Lam (thuộc phân khu trung tâm), đây là ba trung tâm đề kháng bảo vệ Điện Biên Phủ từ phía Bắc.
3) Phân khu Nam là cụm cứ điểm có trận địa pháo binh và sân bay Hồng Cúm, ngăn chặn quân ta tấn công từ phía Nam.
Hoả lực pháo binh được bố trí thành hai trận địa (Mường Thanh và Hồng Cúm) có thể yểm trợ lẫn nhau. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có hai sân bay, nối liền Hà Nội - Hải Phòng bằng một cầu hàng không, hàng ngày có từ 50 đến 60 phi cơ liên tục tiếp tế. Bộ chỉ huy ở đây đứng đầu là Đại tá Đờ Cátxtơri cùng 16 tên quan Năm, trên 1.000 sĩ quan và hạ sĩ quan có cả cố vấn Mỹ và 16.200 lính Âu - Phi tinh nhuệ, lính địa phương, biến Điện Biên Phủ trở thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch. Trên chiến trường Đông Dương chưa bao giờ địch lại tập trung một lực lượng mạnh như vậy, đây là cố gắng cao nhất và cuối cùng của thực dân Pháp.
Với số quân đông, hoả lực mạnh, công sự vững chắc, bố phòng chặt chẽ, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trở thành trung tâm của kế hoạch Nava. Điện Biên Phủ trở thành niềm kiêu hãnh của tướng tá Pháp, Mỹ. Bộ trưởng chiến tranh Pháp, các tướng lĩnh và đô đốc, tổng tham mưu trưởng, tham mưu trưởng các quân chủng hải, lục, không quân Pháp và cả tướng Mỹ Ô. Đanien tới tấp bay lên Điện Biên Phủ. Tất cả đều xác định đây là "một tập đoàn cứ điểm đáng sợ", "một pháo đài bất khả xâm phạm". Tướng Nava đã huênh hoang tuyên bố: "Mục đích của Điện Biên Phủ là bẻ gẫy cẳng Việt Minh", chiếc cối nghiền thịt" quân chủ lực Việt Minh. Chính vì vậy, chúng đã nhiều lần rải truyền đơn thách thức quân ta tiến công và tuyên bố sẽ "nghiền nát" quân đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ.
Địa danh trường tồn của dân tộc Việt
Nếu trong ý nghĩ của tướng tá Pháp, Mỹ, Điện Biên Phủ là một "tập đoàn cứ điểm đáng sợ", "chặt chẽ, hoàn hảo", thì đối với quân và dân ta nó không phải không có điểm yếu. Trong cuộc họp của Bộ Chính trị ngày 6-12-1953 dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể Bộ Chính trị đã đánh giá: Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng điểm yếu cơ bản là bị cô lập, xa hậu phương địch, mọi tiếp tế, vận chuyển phải dựa vào đường hàng không. Nếu ta chặn được đường tiếp tế của địch thì tập đoàn cứ điểm đó chỉ là "con chim sắt gẫy cánh". Hơn nữa, khi xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Nava không tính đến tinh thần yêu nước, quyết hy sinh xương máu vì một nền độc lập dân tộc của quân và dân ta, đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương thời bấy giờ.
Nếu khi xưa, Điện Biên Phủ là một hệ thống công sự, hầm hào từng được tôn vinh là "biểu tượng của đại Pháp", thì ngày nay vẫn những công sự đó, vẫn ngổn ngang trên khắp cánh đồng Mường Thanh từng đống sắt thép hoen gỉ, những xác chiến xa, phi cơ, trọng pháo đủ loại hình, kích cỡ, đủ hãng chế tạo với đủ mọi ưu thế trận mạc,... đã là niềm tự hào của dân tộc Việt. Hàng nghìn vị anh hùng của dân tộc đã hy sinh anh dũng ở nơi đây để cho đất nước độc lập.
Với tinh thần anh dũng đó, mảnh đất bị chiếm đóng khi xưa đã trở thành một địa danh trường tồn của dân tộc, một địa điểm du lịch lịch sử nổi tiếng của Việt Nam. Ngày hôm nay, người dân Điện Biên đã chôn chặt quá khứ đau thương tập trung xây dựng để biến chiến trường xưa trở thành những cánh đồng thơm ngào ngạt hương lúa, hương hoa.

Tổng thống Pháp Mít-tơ-răng thăm di tích Điện Biên Phủ


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Tiến Nam @ 23:55 05/05/2009
Số lượt xem: 603
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến