Gốc > BÀI VIẾT VỀ QUÊ HƯƠNG > VIỆT NAM THÂN YÊU >

QUẢNG TRỊ - MIỀN QUÊ THĂM ĐƯỢM TÌNH NGƯỜI VÀ SẮC MÀU VĂN HÓA

Trong quá khứ đã qua và trong hiện tại, có một miền quê Quảng Trị - “thánh địa” của miền Trung, một Quảng Trị với màu hồng Thành cổ, một Quảng Trị với Lũy thép Vĩnh Linh, một Quảng Trị nằm sâu dưới lòng địa đạo…  Và lại có một Quảng Trị bay bổng những làn điệu dân ca, tươi mới những sắc màu văn hoá làm xao lòng tất cả những ai đã từng đặt chân lên mảnh đất này.

Cầu Hiền Lương

NGƯỜI QUẢNG TRỊ

Được hình thành và phát triển trên vùng đất giữa “khúc ruột” miền Trung của đất nước, nơi mà thiên nhiên không ưu đãi, nơi thường là chiến trường ác liệt của nhiều cuộc chiến tranh đã hun đúc cho con người Quảng Trị những nét tính cách đặc thù đáng quý: Kiên cường, bất khuất, dũng cảm, thông minh trong các cuộc chiến tranh vì nghĩa lớn; cần cù, tự lực, tự cường sáng tạo trong sản xuất và xây dựng cuộc sống, có tâm hồn trong sáng, bình dị, khí khái, bộc trực thẳng thắn và hết mực thủy chung son sắt.

Từ khi còn thuộc quận Nhật Nam đời Hán cho đến thời điểm trở thành một tỉnh với các đơn vị hành chính toàn vẹn như hiện nay (có 8 huyện, 2 thị xã với hơn 60 vạn dân), có thể nói Quảng Trị đã nếm trải hầu hết các thăng trầm của cuộc sống. Nhưng có lẽ những thăng trầm ấy đã bị khuất phục bởi những con người kiên cường của mảnh đất gió lào cát trắng  này. Truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó đã hình thành cho người Quảng Trị một bản lĩnh không chịu khuất phục trước khó khăn, gian khổ để vượt lên chiến thắng thiên tai, địch họa. Quá trình tồn tại và phát triển của Quảng Trị là quá trình con người tự chinh phục, đấu tranh, sáng tạo để khẳng định mình. Ý thức tin tưởng vào ngày mai "còn da lông mọc, còn chồi nảy cây" đã trở thành nền tảng cho người Quảng Trị vượt lên tất cả và chiến thắng.

Trong các cuộc đấu trang giữ nước và dựng nước, các thế hệ người dân Quảng Trị đã phát huy truyền thống đánh giặc, giữ nước của quê hương được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Họ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của quê hương, đất nước. Họ đã làm nên những chiến công chói lọi tô thắm thêm những trang sử hào hùng của quê hương Quảng Trị.

Con người Quảng Trị còn có một truyền thống hiếu học, ở trên vùng đất điều kiện phát triển vô cùng khó khăn thì chính chí khổ học khổ luyện là truyền thống quý báu của người dân Quảng Trị từ bao đời nay. Chính vì vây, Quảng Trị là quê hương của nhiều đại khoa và danh nhân nổi tiếng đất Việt.

Ngày nay, những giá trị lịch sử truyền thống quý báu của con người Quảng Trị đã và đang là động lực tinh thần to lớn cổ vũ lớp trẻ trong chặng đường xây dựng quê hương ngày càng phồn vinh, giàu đẹp.

SẮC MÀU VĂN HOÁ QUẢNG TRỊ

Thành Cổ Quảng Trị

Bản sắc văn hoá của Quảng Trị có một dấu ấn riêng, thấm đẫm tình đất và tình người của miền gió lào – cát trắng.

Trong kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Quảng Trị thì di sản văn hoá chiến tranh cách mạng là khổng lồ, hoàn toàn xứng đáng đứng vào vị trí những địa danh nổi tiếng hàng đầu đất nước và thế giới. Không những thế, Quảng Trị còn nổi tiêng với những di tích danh thắng tiêu biểu làm say đắm lòng người.

Đó là  dòng Thạch Hãn,  con sông nổi tiếng của  tỉnh Quảng Trị. Bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn (Phía Tây Nam của tỉnh), sông chảy về xuôi và gặp sông Rào Quán, sau đó hợp với sông Cam Lộ chảy qua thị xã Đông Hà, trước khi tuôn ra biển qua cửa Việt Yên. Theo các nhà nghiên cứu, giữa nguồn Thạch Hãn có một mạch đá ngầm chắn ngang, vì vậy tên sông được đặt theo đặc điểm này. Sông Thạch Hãn là mạch máu giao thông đường thuỷ quan trọng của Quảng Trị, vùng đất phên dậu phía Bắc của nhà Nguyễn và là “con hào thiên tạo” phía Bắc Thành cổ. Năm 1836, vua Minh Mạng đã chọn Thạch Hãn là một trong chín thắng cảnh của đất nước để tô điểm lên Cửu đỉnh. Trong mùa hè rực lửa năm 1972, Thạch Hãn đã trở thành dòng sông oanh liệt, ôm vào lòng hàng ngàn người con ưu tú của tổ quốc, khi họ dũng cảm vượt sông dưới làn đạn địch, theo tiếng gọi của chiến trường. Máu đỏ hoà vào nước. Thịt xương tan vào đất. Họ mãi mãi nằm xuống cho khát vọng tự do.Hàng năm nhân kỷ niệm ngày thống nhất đất nước, Quảng Trị tổ chức lễ thả đèn hoa, bè hoa trên sông, tưởng nhớ hàng ngàn liệt sĩ đã hi sinh khi vượt sông Thạch Hãn. 

Cách bờ sông Thạch Hãn 500m về phía Nam, cách Quốc lộ 1A khoảng 2 km về phía Đông cũng là một địa danh nổi tiếng: Thành cổ Quảng Trị. Theo sử sách, đây là một thành luỹ quân sự, đồng thời cũng là trụ sở hành chính của nhà Nguyễn trên đất Quảng Trị giai đoạn 1809-1945. Năm 1809, khi vua Gia Long cho dời Thành cổ từ vị trí đầu tiên ở phường Tiền Kiên (Triệu Thành, Triệu Phong) đến xã Thạch Hãn (Nay là phường 2, thị xã Quảng Trị), thành được đắp bằng đất. Đến năm 1827, thành được vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch. Thành cổ có dạng hình vuông, rộng 18 ha, chu vi tường thành là 418 tượng 6 thước (gần 2000 m), cao 1 trượng 94 thước. Bốn gốc thành có 4 pháo đài nhô ra ngoài. Sau trận mưa bom khủng khiếp của kẻ thù, những gì còn lại của Thành  cổ là vài đoạn tường thành, cổng tiền, cổng hậu… Thay vào thành quách xưa, một đài tưởng niệm đã được dựng lên, để tưởng niệm hàng ngàn người đã hi sinh trong cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ.

Khe sanh

Đó còn là Khe Sanh, một thung lũng mỗi chiều chưa tới 10km, bốn bề núi rừng trùng điệp, có khe nước trong vắt từ lòng núi chảy ra. Nơi đây hơn 40 năm trước là một căn cứ địa bất khả chiếm của Mỹ với nhiều cứ điểm như sân bay Tà Cơn, Làng Vây, Hướng Hóa…Nhưng chính chiến thắng Khe Sanh của quân và dân ta đã góp phần đập tan chiến lược “chiến tranh cục bộ”, chiến thuật “tìm diệt”, “bình định” của Mỹ. Cái sót lại của chiến tranh ở nơi đây là Bảo tàng Tà Cơn và những dòng lưu bút của các cựu chiến binh cả bên này và bên kia..

Theo vệt đường 9- Khe Sanh, đi qua các làng bản người dân tộc Pa Kô, Vân Kiều, Tà Ôi…, vượt dòng Đakrông huyền bí với bao câu chuyện thần tiên, sử thi ở km 65, dừng lại bản Bông Tho, xã Tà Long, Đakrông, một cung đường Trường Sơn, đường mòn Hồ Chí Minh gần như nguyên vẹn từ bao nhiêu năm trước, ẩn mình trong thâm u rừng đại ngàn…Đây là con đường huyết mạch cho chiến trường Miền Nam tầm cỡ chiến lược đặc biệt quan trọng. Bắt đầu từ ngã 3 Đồng Lộc- Hà Tĩnh và kết thúc ở Tà Thiết- Bình Phước. Đường được khai mở vào ngày 19.5.1959 do Đoàn 559 Trường Sơn phụ trách. Con đường có tổng chiều dài 16.000km gồm 5 hệ thống trục dọc, 21 đường trục ngang và 3100km đường ngụy trang đặc biệt để xe đi ban ngày, Tổng số đất đá đào đắp là 29triệu m3, san lấp 80.000 hố bom, phá 20.600 quả om nổ chậm, từ trường, bắn rơi và bị thương 2450 máy bay. Số bom rải xuống tính trong chiến lược “VN hóa chiến tranh” là 3 triệu tấn bom các lọai, không kể hàng ngàn lít chất khai quang da cam.Con đường đã “cõng” trên 2 triệu lượt người, hàng chục ngàn đòan xe, hàng triệu tấn lương thực, súng đạn chi viện cho chiến trường Miền Nam. Và sự mất mát cũng thật lớn: 19.000người hy sinh, 32.000người bị thương cùng bao di chứng sau chiến tranh. Ngày hôm nay, ngay bên cạnh cung đường “di tích” huyền thọai thời chiến tranh  là giao lộ của Đại lộ Hồ Chí Minh thế kỷ 21 và con đường xuyên Á. Một cung đường nối quá khứ huyền thọai với tương lai rực rỡ. 

Huyền thoại cõi Trường Sơn

Bên cạnh những di sản văn hoá chiến tranh cách mạng, những di tích danh thắng tiêu biểu, sắc màu văn hóa của vùng đất Quảng Trị còn được tô điểm bởi những nét đặc sắc trong hội hè, đình đám. Đó là những lễ hội dân gian truyền thống như Tết Nguyên đán, Tết Đoan Ngọ; Tết cơm mới; lễ hội Cầu Ngư; lễ hội tôn giáo như lễ Vu Lan, rước kiệu Đức Mẹ La Vang; và các lễ hội cách mạng lịch sử cũng đang được hình thành phát triển như lễ hội "Uống nước nhớ nguồn", “Huyền thoại cõi Trường Sơn” kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ 27-7 bằng hình thức thả hoa trên sông Thạch Hãn; lễ hội "Thống nhất non sông" ở đôi bờ sông Bến Hải. Ngoài các lễ hội kể trên, ở Quảng Trị còn có các trò chơi dân gian thường diễn ra trong Tết Nguyên đán. Tết đến, nhiều làng mở hội, vui xuân như: Chạy cù, đánh đu, đánh bài chòi, đua ghe, hát bội, đánh vật, đá gà...
Lễ hội, trò chơi dân gian là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng, có tính phổ biến trong đời sống xã hội, có sức lôi cuốn đông đảo nhân dân, nhất là lớp trẻ tham gia.

Phong tục tập quán Quảng Trị cũng như ở các nơi khác là nhấn mạnh phương châm "tùy gia phong kiệm". Phong tục lễ nghi được giản lược đến mức vừa đủ tối thiểu. Người dân Quảng Trị rất tâm đắc câu tục ngữ: "Không ai khen đám cưới, không ai cười đám ma". Cưới, gả không còn "lục lễ" thời phong kiến, mà chỉ quy lại hai lễ: Lễ hỏi và lễ cưới...Văn học dân gian Quảng Trị có từ rất sớm nhưng văn học viết thì xuất hiện muộn hơn. Theo tài liệu sưu tầm được từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII có những người làm thơ được lưu danh trong nhân dân như: Đặng Quang (thế kỷ XV), Lê Tri Huyện (thế kỷ XVI), Nguyễn Phúc Chu (thế kỷ XVII), Trần Duy Trung (thế kỷ XVIII); thời kỳ từ thế kỷ XIX đến năm 1945: Tiêu biểu về văn thơ chữ Hán, chữ Nôm có Nguyễn Hữu Thận, Trần Đình Túc, Nguyễn Tự Như, tiêu biểu cho bộ phận văn thơ chữ Quốc ngữ có: Phan Văn Dật, Lê Thế Hiếu, Hồng Chương, Trần Hữu Dực...
Văn học hiện đại (1945 - 1975) có các tác giả: Chế Lan Viên, Dương Tường, Lương An, Tấn Hoài, Nguyễn Khắc Thứ, Tân Trà...
Quảng Trị là quê hương của nhiều đại khoa và danh nhân nổi tiếng đất Việt. Từ đầu thế kỷ XVI trở đi, nhất là trong giai đoạn triều Nguyễn, có nhiều người đỗ tiến sĩ, phó bảng. Số tiến sĩ có: Bùi Dục Tài (quê Hải Lăng), năm thi đỗ: 1502 (thời vua Lê Hiển Tông); Nguyễn Đức Hoan (Hải Lăng), năm thi đỗ: 1835 (thời vua Minh Mạng); Nguyễn Thế Trị (Triệu Phong), năm thi đỗ: 1835 (thời vua Minh Mạng); Lê Đức (Vĩnh Linh), năm thi đỗ: 1841 (thời vua Thiệu Trị); Nguyễn Xuân Thu (Vĩnh Linh), năm thi đỗ: 1841; Nguyễn Phiên (Gio Linh), năm thi đỗ: 1843 (thời vua Thiệu Trị); Nguyễn Dương Huy (...) năm thi đỗ: 1844 (thời vua Thiệu Trị); Nguyễn Văn Chương (Vĩnh Linh), năm thi đỗ: 1844 (thời vua Thiệu Trị); Nguyễn Đức Tư (Hải Lăng), năm thi đỗ: 1847 (thời vua Thiệu Trị); Nguyễn Văn Hiển (Hải Lăng), năm thi đỗ: 1847; Lê Thụy (Triệu Phong), năm thi đỗ: 1875 (thời vua Tự Đức); Trần Phát (Gio Linh), năm thi đỗ: 1877 (thời vua Tự Đức); Hoàng Bính (Triệu Phong), năm thi đỗ: 1889 (thời vua Thành Thái); Lê Phát (Gio Linh), năm thi đỗ: 1895 (thời vua Thành Thái); Nguyễn Tự Như (Gio Linh), năm thi đỗ: 1898 (thời vua Thành Thái); Nguyễn Hàm (Triệu Phong), năm thi đỗ: 1910 (thời vua Duy Tân)... Danh thơm của các vị tiến sĩ trên được các thế hệ trẻ Quảng Trị từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay không ngừng tô điểm thêm.

Chợ Quảng Trị

Tuy không thật phong phú song những món đặc sản đậm đà của Quảng Trị đã góp thêm tiếng nói vào văn hóa ẩm thực chung của cả nước..

Nem chợ Sãi, vải La Vang

- Khoai quán Ngang, dầu tràm Đại Nại

- Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ

- Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông

- Cá bống Bích La, gà Trại Lộc...

Nơi đồng sâu có tôm cá quanh năm, với bàn tay khéo léo và chịu khó đã tạo những nét riêng đặc sắc của Quảng Trị mà các nơi khác không có được:

- Quạt chợ Sòng, có bống Bích La

Tôm đồng Mai Lĩnh, gạch ngói Trí Bưu

- Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ

Chợ Ngô Xá nón lá Kệ Văn (Văn Quỷ)

Văn hoá Quảng Trị còn được kết tinh ở tinh thần cộng đồng bền chặt, phong cách giao tiếp, ứng xử và lối sống thuần hậu, tao nhã của người dân xứ Quảng...

Và hôm nay, đến với Quảng Trị, ngắm nhìn những đổi thay trên mảnh đất một thời khói lửa này bạn sẽ cảm nhận hết được nét đẹp của một miền quê thấm đẩm tình người và sắc màu văn hoá.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Tiến Nam @ 13:20 07/12/2009
Số lượt xem: 1465
Số lượt thích: 0 người
Avatar

Đến Gia Lai nhớ gọi cho chị nhé!

Avatar

Xa Quảng Trị, quê hương tôi

Hai mươi năm chưa hề trở lại

Nợ áo cơm, chặng đường xa ngái... 

Avatar
Lâu không ghé. Chúc thầy Tiến Nam và gia đình luôn an vui hạnh phúc.
Avatar
Hoàng Minh tham gia trang của ban! Mong được cùng nhau giao lưu, học hỏi...! Chúc gia đình bạn luôn vui vẻ, thành đạt!
Avatar
Tặng thầy Nam Code giải trí tổng hợp. http://violet.vn/hohoangminh1965/present/show/entry_id/6372191
 
Gửi ý kiến